Doanh  nghiệp có được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lý do dịch Covid-19?

Doanh  nghiệp có được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lý do dịch Covid-19?

Ngay thời điểm này, những ngày cuối cùng của tháng 03/2022, rất nhiều chính sách liên quan đến phòng chống dịch bệnh Covid 19 cơ bản đã được thay đổi theo hướng sống chung với dịch, phục hồi nền kinh tế. Nhưng đâu đó cũng còn khá nhiều Doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn và buộc phải đưa ra giải pháp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do dịch bệnh Covid 19, điều này dẫn đến khá nhiều vụ tranh chấp lao động giữa người lao động và Doanh nghiệp. Vậy Doanh nghiệp có được chấp dứt hợp đồng lao động vì lý do dịch bệnh Covid 19 hay không?

Doạnh nghiệp được đơn phương chấp dứt hợp đồng lao động với lý do dịch bệnh nguy hiểm

Theo quy định tại Điều 36 BLLĐ năm 2019:

Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

Dịch bệnh covid 19 là  một dịch bệnh nguy hiểm được Việt Nam và cả thế giới công nhận do đó mà với lý do dịch bệnh Covid -19 và Doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc thì Doanh nghiệp được quyền đơn phương chấp dứt hợp đồng lao động với người lao động.

Như thế nào là “đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc”?

Cần phải lưu ý rằng không phải chỉ với lý do dịch bệnh Covid-19  gây ra  khó khăn thì Doanh nghiệp có thể đơn phương chấp dứt hợp đồng lao động được mà đồng thời phải kèm theo điều kiện “đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc”.

Việc Doanh nghiệp “đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc” có thể thể hiện qua các sự kiện hoặc hành động, tài liệu, chứng cứ như:

– Do dịch Covid -19 mà Doanh nghiệp cạn kiệt nguyên liệu sản xuất và đã liên hệ với các đối tác hoặc các nguồn khác để tìm kiếm nguyên liệu sản xuất thay thế nhưng vẫn không tìm được, dẫn đến không thể sản xuất;

Doanh nghiệp đã thông báo các đối tác về lý do bất khả kháng, không thế sản xuất, làm việc, cung cấp hàng hóa để đề nghị gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng;

Doanh nghiệp bị hủy hàng loạt hợp đồng quan trọng  vì lý do dịch bệnh Covid 19;

– Các văn bản hoặc yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh để phòng, chống dịch;

– Báo cáo tài chính, báo cáo thuế, báo cáo tổng hợp chứng minh kết quả sản xuất kinh doanh giảm sút;

– Quyết định ngừng hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp.

– Các tài liệu, chứng cứ khác.

Thực hiện đúng thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Theo Điều 36 BLLĐ năm 2019:

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp “Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.”

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Như vậy dù cho Doanh nghiệp đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc thì  tùy trừng trường hợp người lao động với loại hợp đồng riêng biệt mà Doanh nghiệp phải có thời hạn báo trước đúng quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ của Doanh nghiệp khi đơn phương chấp dứt hợp đồng vì lý do dịch bệnh Covid 19

Theo Điều 46 BLLĐ năm 2019:

Người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Theo Điều 47 BLLĐ năm 2019:

Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, cứ mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.

Theo Điều 48 BLLĐ năm 2019:

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên và có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả.

Như vậy, sau khi đã đủ điều kiện để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và đáp ứng đủ thời gian báo trước theo quy định của BLLĐ năm 2019 Doanh nghiệp còn phải:

– Thanh toán, chi trả cho người lao động các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc;

– Thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên;

– Hoàn thành các thủ tục liên quan đến bảo hiểm và quá trình làm việc cho người lao động.

Tóm lại, Doanh nghiệp có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do dịch bệnh Covid-19 nhưng phải tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về cả điều kiện, trình tự thủ tục và nghĩa vụ.

Võ Thanh Sang

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *