Tuyên tuyền và phổ biến, giáo dục pháp luật
PHÁP LUẬT CÓ CÔNG NHẬN HÔN NHÂN GIỮA NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG TÍNH?
Thế nào là giới tính thứ 3 (đồng tính)
– Giới tính thứ 3 (đồng tính) là khái niệm được dùng để chỉ những cá nhân không thuộc giới nam hay giới nữ. Hiện nay, ngoài cách gọi là giới tính thứ 3 thì các bạn trẻ còn gọi nó với tên viết tắt LGBT.
Dấu hiệu nhận biết người thuộc giới tính thứ 3
– Chúng ta thường dùng từ đồng tính luyến ái, để nói về những người có xu hướng yêu đương và tình dục cùng giới với họ.- Các mối quan hệ đồng tính mà mọi người thường thấy bao gồm: Đồng tính nam gọi là gay và đồng tính nữ gọi là les (lesbian). Ngoài ra, còn có song tính (Bisexual) bị thu hút bởi cả hai giới và chuyển giới (Transgender).

Nguyên nhân dẫn đến bị đồng tính
– Cho đến thời điểm hiện nay, việc xuất hiện hiện tượng hay nguyên nhân gây đồng tính vẫn chưa được rõ ràng, có ý kiến cho rằng việc bị đồng tính là do “bệnh” Tuy nhiên, các nhà khoa học đã tìm tòi và không phát hiện ra bất kì virus, vi khuẩn hay kí sinh trùng nào, vào năm 1990 Tổ chức Y tế thế giới đã tuyên bố: “Đồng tính không phải là bệnh”. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến đồng tính?
– Cập nhật những nghiên cứu mới nhất thì những người có xu hướng đồng tính thì vùng đô thị trên não của họ có sự khác biệt nhất định so với những người thuộc giới nam hay nữ rõ ràng và yếu tố môi trường gia đình, sự chăm sóc và cách giáo dục của cha mẹ và sự tương tác của cuộc sống xung quanh cũng là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng đến biểu hiện của đồng tính.
– Hiện nay, việc kì thị người đồng tính đã có xu hướng giảm nhưng vẫn còn khá cao, tập trung chủ yếu ở miền Bắc.
Kết hôn giữa những người đồng giới.– Theo quan điểm của xã hội thì việc nam và nữ xác lập mối quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về điều kiện và đăng ký kết hôn. Vậy việc kết hôn giữa những người đồng giới liệu có được pháp luật và xã hội công nhận?

– Trước đây, theo Luật Hôn nhân và gia đình 2000 thì việc kết hôn giữa những người đồng giới với nhau bị cấm. Tuy nhiên, từ ngày 1/1/2015, Luật Hôn nhân và sửa đổi, bổ sung năm 2014 có hiệu lực Quốc hội đã bỏ điều cấm này và thay bằng khoản 2 điều 8: “ Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Nhà nước quy định kết hôn tại điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:
Điều 8. Điều kiện kết hôn
- Nam, nữ kết với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
- a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
- b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
- c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
- d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
- Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Theo báo Tuổi trẻ, những người đồng giới vẫn có thể chung sống với nhau như vợ chồng, tuy nhiên nếu giữa họ có xảy ra tranh chấp thì pháp luật sẽ không xử lý.
– “Không thừa nhận hôn nhân giữa những cùng giới tính” có nghĩa là pháp luật không cho phép việc đăng ký kết hôn tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay được coi như là vợ – chồng và các nghĩa vụ tương ứng.
– Như vậy, theo những quy định trên thì hôn nhân giữa những người cùng giới tính không còn bị cấm, họ có thể tổ chức hôn lễ hoặc chung sống với nhau như vợ – chồng, Tuy nhiên, sẽ không được đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước.
Trang Nguyễn Thảo Vy
