Nhân viên khởi kiện công ty do đơn phương chấm dứt hợp đồng vì dịch Covid 19

Nhân viên khởi kiện công ty do đơn phương chấm dứt hợp đồng vì dịch Covid 19

Ngay thời điểm này, những ngày cuối cùng của tháng 01/2022 và cũng là những ngày cuối cùng của năm Tân Sửu, dịch bệnh covid 19 cơ bản đã được kiểm soát, kinh tế đang dần phục hồi. Nhưng đâu đó cũng còn khá nhiều doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn và buộc phải đưa ra giải pháp chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do dịch bệnh Covid 19, điều này dẫn đến khá nhiều vụ tranh chấp lao động giữa người lao động và Công ty. Vậy Công ty có được chấp dứt hợp đồng lao động vì lý do dịch bệnh covid 19 hay không?

Nhân viên khởi kiện công ty do đơn phương chấm dứt hợp đồng vì dịch Covid 19

Để mọi người dễ hình dung, bài viết này sẽ dùng cụm từ “công ty” thay cho cụm từ “người sử dụng lao động” và cụm từ “nhân viên” thay cho cụm từ ”người lao động”.

II. Những trường hợp nào thì công ty được đơn phương chấp dứt hợp đồng lao động.

Theo quy định tại Điều 36 BLLĐ năm 2019:

  1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

Như vậy, dịch bệnh covid 19 là  một dịch bệnh nguy hiểm do đó mà với lý do dịch bện covid19 và Công ty đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc thì công ty được quyền chấp dứt hợp đồng lao động với nhân viên.

Tuy nhiên, cần phải lưu ý:

Không phải chỉ với lý do dịch bệnh Covid 19  gây nên khó khăn thì Công ty có thể đơn phương chấp dứt hợp đồng lao động được mà đồng thời phải thỏa điều kiện “đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc”.

Để chứng minh được việc Công ty “đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc” Công ty  có thể cung cấp các thông tin như:

– Thông tin về việc Công ty đã liên hệ với các đối tác để tìm kiếm nguyên liệu sản xuất thay thế do hết nguyên liệu sản xuất;

Thông tin về việc Công ty đã thông báo các đối tác về lý do bất khả kháng để đề nghị gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng;

Thông tin về việc Công ty bị hủy hợp đồng do vì lý do dịch bệnh Covid 19;

– Các văn bản hoặc yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu Công ty  tạm ngừng kinh doanh để phòng, chống dịch;

-Báo cáo tài chính, báo cáo thuế, báo cáo tổng hợp chứng minh kết quả sản xuất kinh doanh giảm sút;

– Quyết định ngừng hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp.

II. Thực hiện đúng thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Theo Điều 36 BLLĐ năm 2019

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp “Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.”

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

III. Nghĩa vụ của Công ty khi đơn phương chấp dứt hợp đồng vì lý do dịch bệnh Covid 19

Theo Điều 46 BLLĐ năm 2019

Người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Theo Điều 47 BLLĐ năm 2019

  1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, cứ mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.

Theo Điều 48 BLLĐ năm 2019

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên và có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả.

Tóm lại, Công ty có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do dịch bệnh Covid 19 nhưng phải tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về cả điều kiện, nghĩa vụ, trình tự thủ tục.

Trong trường hợp xảy tra tranh chấp lao động giữa công ty và nhân viên thì Công ty có thể đưa ra các bằng chứng liên quan đến  “đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc “ như các ví dụ vừa được liệt kê.

Xin cảm ơn tất cả mọi người đã dành thời gian đọc bài viết. Xin chào và hẹn gặp lại trong những bài viết khác.

Võ Thanh Sang

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *